Loài cây ven hàng rào vị hơi đắng giờ hóa món lạ ở phố, chỉ trồng một bận thu bán suốt năm, còn rất bổ cho sức khỏe

Cây rau mang hương vị độc đáo kèm chút chua chát, với mùi thơm riêng biệt, không những được dùng phổ biến trong các bữa ăn thường ngày mà còn mang lại những lợi ích đáng kể cho cơ thể con người.

Ngày đăng: 2 tháng trước
cay-moc-bo-rao-co-vi-dang-nay-thanh-dac-san-la-o-thanh-pho-trong-mot-lan-hai-ban-quanh-nam-tot-cho-suc-khoe

Từ một loại cây từng mọc dày nơi hàng rào, bờ ao hay góc vườn ở nhiều vùng quê, rau cúc tần nay được nhắc đến như một món rau dân dã gắn liền ký ức của người dân miền Bắc và miền Trung. Những bụi cúc tần xanh tốt quanh năm không chỉ tạo hàng rào tự nhiên, che nắng, làm mát không gian sống mà còn là nguyên liệu quen thuộc trong bữa cơm gia đình.

Cúc tần có tên khoa học là Pluchea indica, thuộc họ Cúc. Loài cây này sinh trưởng mạnh trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, thường xuất hiện ở ven sông, bãi đất trống hoặc khu vực quanh vườn nhà. Cây cao khoảng 1 đến 2 mét, thân mềm và phân nhiều nhánh. Lá màu xanh đậm, mép có răng cưa nhẹ, phủ lớp lông mịn. Khi vò lá, mùi thơm hăng nhẹ đặc trưng của thảo dược tỏa ra rất rõ. Vào mùa hè, cây ra những chùm hoa nhỏ màu tím nhạt, mang vẻ mộc mạc nhưng vẫn nổi bật.

Một trong những lý do khiến rau cúc tần được ưa chuộng là khả năng phát triển bền bỉ, ít sâu bệnh và không đòi hỏi chăm sóc phức tạp. Chỉ cần cắm cành xuống nền đất ẩm, cây đã có thể bén rễ và lớn nhanh. Trước đây, nhiều gia đình vì thế chọn trồng cúc tần làm hàng rào xanh quanh nhà, vừa lấy bóng mát, vừa có sẵn nguồn rau sạch cho bữa ăn hằng ngày.

Không chỉ là một loại cây quen thuộc trong vườn quê, cúc tần còn góp mặt trong nhiều món ăn truyền thống. Phần ngọn và lá non thường được dùng để luộc, nấu canh hoặc xào với trứng, lòng gà, thịt băm. Rau có vị hơi đắng, hơi nhẩn ở đầu lưỡi nhưng sau đó để lại hậu ngọt thanh, càng ăn càng dễ nhớ. Hương thơm riêng của cúc tần cũng giúp món ăn đậm đà hơn, đặc biệt phù hợp trong những ngày thời tiết oi bức.

Tại nhiều vùng quê miền Bắc, lá cúc tần còn được sử dụng để kho cá. Khi được nấu liu riu trên lửa nhỏ, hương lá hòa quyện với vị béo của cá tạo nên mùi thơm hấp dẫn khó quên. Ngoài ra, loại rau này còn được chế biến thành nhiều món độc đáo như nộm cúc tần trộn lạc rang, bánh nếp nhân rau hay canh cúc tần nấu tôm đồng.

Ngày nay, dù không còn phổ biến như trước, rau cúc tần vẫn được nhiều người săn tìm tại chợ quê hoặc trong các hội nhóm thực phẩm sạch. Giá lá non thường ở mức vài chục nghìn đồng mỗi kg. Nhiều gia đình sống tại thành phố cũng bắt đầu trồng cúc tần trong chậu hoặc ngoài ban công để làm cảnh, đồng thời thuận tiện thu hái lá tươi chế biến món ăn.

Bên cạnh giá trị ẩm thực, rau cúc tần còn được đánh giá là loại rau giàu dưỡng chất. Trong lá cúc tần có chứa nhiều hợp chất tự nhiên như tinh dầu, axit chlorogenic cùng các vitamin và khoáng chất thiết yếu. Thành phần dinh dưỡng của lá tươi khá đa dạng, gồm protid, chất xơ, vitamin C, carotene, canxi, sắt và photpho. Nhờ đó, cúc tần không chỉ giúp món ăn thêm hấp dẫn mà còn góp phần bổ sung dưỡng chất cho bữa cơm hằng ngày.

Rau cúc tần còn được dân gian nhắc đến với nhiều công dụng hỗ trợ sức khỏe đáng chú ý.

Khi bị cảm lạnh kèm đau đầu, nhiều người thường dùng lá cúc tần nấu chung với sả và lá chanh để xông hoặc uống. Cách làm này giúp cơ thể ra mồ hôi, hỗ trợ giải cảm và làm dịu cảm giác đau đầu tương đối hiệu quả.

Với tình trạng đau nhức vùng thắt lưng, lá và cành non cúc tần thường được giã nhuyễn, trộn cùng một ít rượu rồi sao nóng. Hỗn hợp này sau đó được đắp lên vùng thắt lưng hoặc khu vực đau mỏi quanh thận trong khoảng 15 đến 20 phút. Theo kinh nghiệm dân gian, việc áp dụng đều đặn mỗi ngày có thể giúp cải thiện cảm giác ê mỏi tốt hơn.

Trong dân gian, lá cúc tần giã nát còn được dùng để đắp trực tiếp lên vết thương với mục đích hỗ trợ giảm đau và thúc đẩy quá trình phục hồi da. Ngoài ra, một số nơi còn kết hợp rễ cúc tần với rễ cây trinh nữ, rễ bưởi bung, lá đinh lăng và cam thảo dây, sắc lấy nước uống liên tục từ 5 đến 7 ngày.

Để hỗ trợ giảm căng thẳng và mệt mỏi, người dân gian từng dùng lá cúc tần nấu cùng hoa cúc trắng, đu đủ chín tới và óc lợn. Sau khi hầm mềm, món ăn này được chia thành hai bữa trong ngày, dùng lúc còn nóng và duy trì khoảng một tuần nhằm giúp cơ thể thư giãn, bớt mệt mỏi.

Với trường hợp ho do viêm khí quản, lá cúc tần già thường được băm nhỏ rồi nấu cháo cùng gạo, thịt băm và vài lát gừng tươi. Món cháo nên ăn nóng, dùng liên tục khoảng 3 ngày với 3 bữa mỗi ngày để hỗ trợ làm dịu cơn ho và giữ ấm cơ thể.

Theo kinh nghiệm dân gian, lá cúc tần cũng có thể kết hợp với cỏ xước và hoa ngũ sắc tím theo tỷ lệ bằng nhau, đun lấy nước uống nhiều lần trong ngày để hỗ trợ giảm viêm họng, nghẹt mũi và ho. Trong trường hợp sốt cao, người ta thường cho thêm lá diếp cá để tăng tác dụng thanh nhiệt.

Đối với bệnh trĩ, lá cúc tần thường được nấu cùng lá sung, lá lốt, lá ngải cứu và nghệ để làm nước xông. Sau khi đun cô đặc, người bệnh dùng hỗn hợp này xông hậu môn khoảng 15 phút rồi tiếp tục ngâm khi nước còn ấm. Phương pháp này thường được áp dụng vài lần mỗi tuần.

Người xưa cũng sử dụng thân, cành và lá cúc tần thái nhỏ, kết hợp với cua đồng giã lấy nước cốt rồi pha thêm chút muối để uống nhiều lần trong ngày. Bài thuốc dân gian này thường được áp dụng trong khoảng 5 ngày nhằm hỗ trợ phục hồi cơ thể suy nhược hoặc tình trạng thổ huyết.

Với bệnh hen suyễn, một số người dùng lá cúc tần rửa sạch, giã nhuyễn rồi lọc lấy nước uống đều đặn trong thời gian dài để hỗ trợ giảm triệu chứng. Theo kinh nghiệm dân gian, phương pháp này cần được duy trì liên tục và kiên trì mới có thể nhận thấy hiệu quả.

Tin liên quan

img

Cảnh báo thực phẩm làm mát, giá bình dân dễ nhiễm sán được người dân tin dùng; lời khuyên từ nhà khoa học.

Giữa cái nóng oi ả, rau xanh luôn là giải pháp lý tưởng giúp làm dịu cơ thể. Dẫu vậy, nhóm thực phẩm này thường là nơi trú ngụ của nhiều mầm bệnh ký sinh; nếu thiếu sự cẩn trọng trong việc rửa và nấu chín, người ăn rất dễ đối mặt với rủi ro sức khỏe vô cùng nghiêm trọng.